Bác sĩ Lê Thị Nam Giang

Giảng viên Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Thư ký Hiệp hội Sở hữu Trí tuệ Thành phố Hồ Chí Minh

 

  1. Khung pháp lý để bảo vệ bản quyền trong môi trường Internet

Theo luật pháp Việt Nam, bảo vệ bản quyền và các quyền liên quan đến bản quyền (sau đây gọi chung là bản quyền) nói chung, quyền sở hữu trí tuệ nói chung được điều chỉnh bởi một hệ thống các tài liệu quy phạm. luật pháp, bao gồm:

  • Bộ luật dân sự năm 33/2005 / QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005;
  • 2005 Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005 / QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, được sửa đổi bởi Luật số 36/2009 / QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 (Luật IP);
  • Nghị định 100/2006 / ND-CP do Chính phủ ban hành ngày 21 tháng 9 năm 2006, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu Trí tuệ về bản quyền và quyền liên quan;
  • Nghị định số 85/2011 / ND-CP của Chính phủ ngày 20 tháng 9 năm 2011 sửa đổi và bổ sung Nghị định 100/2006 / ND-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006;
  • Nghị định 131/2013 / ND-CP của Chính phủ ban hành ngày 16 tháng 10 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bản quyền và các quyền liên quan;
  • Chỉ thị số 04/2007 / CT-TOT của Thủ tướng Chính phủ ngày 22 tháng 2 năm 2007 về tăng cường bảo vệ bản quyền cho các chương trình máy tính.
  • Chỉ thị số 36/2008 / CT-TOT của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2008 về tăng cường quản lý và thực thi bản quyền và bảo vệ quyền liên quan.
  • Thông tư liên tịch số 07/2012 / TTLT-BTTTT-BVHTTDL ngày 19 tháng 6 năm 2012 quy định trách nhiệm của các doanh nghiệp trung gian trong việc bảo vệ bản quyền và các quyền liên quan trên Internet và viễn thông môi trường mạng.
  • Thông tư số 15/2012 / TT-BVHTTDL ngày 13/12/2012 hướng dẫn đánh giá bản quyền và các quyền liên quan.
  • Thông tư liên tịch số 01/2008 ngày 29 tháng 2 năm 2008 hướng dẫn về việc truy tố hình sự các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
  • Thông tư liên tịch số 02/2008 ngày 3 tháng 4 năm 2008 hướng dẫn áp dụng một số quy định pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án Nhân dân.
  • Bộ luật hình sự số 15/1999 / QH10 ngày 21/12/1999, được sửa đổi bởi Luật số 37/2009 / QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009.
  • Luật Hải quan số 29/2001 / QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001, được sửa đổi bởi Luật số 42/2005 / QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005.
  • Luật xuất bản số 19/2012 / QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012
  • Luật điện ảnh số 62/2006 / QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006, được sửa đổi bởi Luật số 31/2009 / QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009
  • Luật Công nghệ thông tin số 67/2006 / QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006
  • Nghị định 154/2005 / ND-CP của Chính phủ ban hành ngày 15/12/2005, quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan
  • Thông tư số 44/2011 / TT-BTC ngày 1 tháng 4 năm 2012 hướng dẫn công tác chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực hải quan.

Ngoài các quy định của pháp luật Việt Nam, bảo hộ bản quyền ở Việt Nam cũng có thể bị chi phối bởi các điều ước quốc tế đa phương và song phương quan trọng mà Việt Nam đã là thành viên của lĩnh vực này như:

  • Berne Công ước bảo vệ tác phẩm văn học nghệ thuật năm 1886 (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 26 tháng 10 năm 2004)
  • Công ước Rome về bảo vệ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, phiên âm và tổ chức phát sóng (Có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 1 tháng 3 năm 2007)
  • Công ước Geneva bảo vệ các nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép bản ghi âm của họ (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 6 tháng 7 năm 2005).
  • Công ước Brussels liên quan đến việc phân phối các tín hiệu mang chương trình được truyền qua các vệ tinh (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 12 tháng 1 năm 2006).
  • Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 11 tháng 1 năm 2007)
  • Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hoa Kỳ về việc thiết lập quan hệ bản quyền vào ngày 27 tháng 6 năm 1997
  • Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ vào ngày 7 tháng 7 năm 1999;
  • Hiệp định thương mại giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hoa Kỳ vào ngày 13 tháng 7 năm 2000.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Việt Nam chưa tham gia một số điều ước quốc tế đa phương quan trọng trong lĩnh vực bản quyền, trực tiếp điều chỉnh các vấn đề bảo vệ bản quyền trong môi trường kỹ thuật số. Đó là: (i) Hiệp ước WIPO về bản quyền (WCT, có hiệu lực từ ngày 6 tháng 3 năm 2002, hiện có 91 quốc gia thành viên), được ký để làm rõ một số điều khoản của Công ước Berne về bảo vệ tác phẩm văn học và nghệ thuật trong môi trường kỹ thuật số , ví dụ, làm rõ quyền sao chép, quyền truyền đạt công việc trong môi trường kỹ thuật số. Đồng thời, Công ước này cũng bổ sung một số quyền, quyền và nghĩa vụ của tác giả của các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ bản quyền trong môi trường kỹ thuật số; (ii) Hiệp ước WIPO về quyền của người biểu diễn (WPPT, có hiệu lực từ ngày 20 tháng 5 năm 2002, hiện có 92 quốc gia thành viên) được ký kết để làm rõ và bổ sung một số điều khoản. Công ước Rome năm 1961 để bảo vệ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi video và tổ chức phát sóng trong môi trường kỹ thuật số.

Mặc dù pháp luật Việt Nam vẫn có một số điểm không thực sự phù hợp với các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như không thực sự phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam, nhưng được đánh giá một cách khách quan, luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam và pháp lý liên quan các tài liệu đã tạo ra một khung pháp lý tương đối đầy đủ để bảo vệ bản quyền nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung. Những điều khoản này cũng được xem xét theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Và trong trường hợp có sự khác biệt giữa các điều khoản của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên với các quy định của pháp luật Việt Nam, Luật ký kết, tham gia và thực hiện các điều ước quốc tế của Việt Nam cũng như Điều 5 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam (Luật sở hữu trí tuệ) khẳng định nguyên tắc cho phép áp dụng các điều ước quốc tế. Điều này thực sự tạo ra một cơ sở pháp lý để bảo vệ bản quyền nói riêng, quyền sở hữu trí tuệ nói chung tại Việt Nam.

Về nguyên tắc, các quy định của pháp luật Việt Nam thường được áp dụng cho các loại tác phẩm được liệt kê trong Điều 14 của Luật IP và quyền của các tổ chức, cá nhân đối với các buổi biểu diễn và bản ghi âm. quay video, phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang các chương trình được mã hóa trong môi trường truyền thống và trong môi trường kỹ thuật số. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù của bảo vệ bản quyền trong môi trường kỹ thuật số, ngoài các quy định chung này, pháp luật Việt Nam có một số quy định quản lý vấn đề này một cách riêng biệt.

  1. Thực tế vi phạm bản quyền tại Việt Nam

Mặc dù pháp luật Việt Nam hiện nay về cơ bản đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ bản quyền trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như yêu cầu thực tế của Việt Nam, nhưng thực tế Tình trạng vi phạm bản quyền trong môi trường Internet ở Việt Nam vẫn còn rất phổ biến. Vi phạm bản quyền nói chung, trên môi trường Internet nói riêng diễn ra đối với tất cả các loại tác phẩm, từ tác phẩm văn học và khoa học đến điện ảnh, âm nhạc, nhà hát và chương trình máy tính … Vi phạm quyền cũng rất đa dạng, từ vi phạm quyền sở hữu chẳng hạn như quyền sao chép, quyền truyền đạt và phân phối tác phẩm cho các quyền đạo đức như quyền xuất bản tác phẩm, quyền bảo vệ sự toàn vẹn. của công việc … Việc vi phạm ngày càng tinh vi hơn với việc khai thác sự phát triển của công nghệ (Pear to Pear: P2P, Bit Torrent, Cyberlockers …).

Theo báo cáo tóm tắt 5 năm thực hiện Chỉ thị số 36/2008 / CT-TOT về tăng cường quản lý và thực thi bản quyền và các quyền liên quan (bản quyền) của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), năm 2009, các thanh tra chuyên ngành văn hóa, thể thao và du lịch đã thu giữ 649.324 loại băng và 3885 bản sao của sách. Tổng số tiền phạt vi phạm hành chính là 11.500.510.000 đồng. Năm 2010 – 2011, Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền 227.000.000 đồng cho các công ty có trang web lưu trữ, cung cấp và phổ biến một số lượng lớn các bản ghi âm. không được ủy quyền của chủ sở hữu quyền. Năm 2013, Thanh tra Bộ Văn hóa Thông tin đã xử phạt vi phạm hành chính vì vi phạm bản quyền đối với các chương trình máy tính với số tiền 2.033.000.000 đồng và yêu cầu ba trang web gỡ bỏ hàng ngàn bộ phim vi phạm. bản quyền của sáu hãng phim lớn của Mỹ. Thanh tra Bộ Văn hóa Thông tin cũng đã nhận được 60 khiếu nại liên quan đến tranh chấp bản quyền đối với 142 đầu sách của 25 nhà xuất bản. Đó là chưa kể các trường hợp xử lý tại các địa phương. [1]

Những con số trên chỉ phản ánh một phần rất nhỏ tình hình vi phạm bản quyền thực tế tại Việt Nam. Trên thực tế, với khoảng 400 trang web sử dụng video (phim và nhạc) tại Việt Nam, trong đó hầu hết các tác phẩm được sử dụng bất hợp pháp, có thể thấy rằng số lượng tác phẩm vi phạm bản quyền sẽ rất lớn. Thực tế sao chép và đăng lại bài viết trên báo điện tử, trang web rất phổ biến ở Việt Nam.

Tuy nhiên, đây không phải là tình huống độc nhất ở Việt Nam mà còn là tình trạng phổ biến ở nhiều quốc gia. Ví dụ, tại Hàn Quốc, năm 2011, khoảng 2,7 tỷ nội dung thuộc loại lậu (trực tuyến và truyền thống), khoảng 2.400 tỷ won đã bị mất. Năm 2013, riêng vi phạm bản quyền trực tuyến đã chiếm khoảng 4.000 tỷ won [2] . Tại Liên bang Nga, ngành công nghiệp điện ảnh Nga ước tính mất hơn 4 tỷ USD mỗi năm do vi phạm bản quyền cũng như phát tán phim bất hợp pháp trên internet.[3].

Có nhiều lý do cho tình huống này. Thứ nhất, sự phát triển mạnh mẽ của Internet và các thiết bị cho phép truy cập Internet đã giúp việc truyền tải và sao chép các tác phẩm trở nên dễ dàng. Sau đó là thói quen “Chùa Sài Gòn” và ý thức không tôn trọng luật sở hữu trí tuệ của đa số người dân. Năng lực chuyên môn và thiếu nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và điều kiện kỹ thuật trong các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng là một trong những yếu tố khiến việc thực thi bản quyền nói riêng. , quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam nói chung còn hạn chế. Người có quyền không nhận thức được quyền của mình. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, luật pháp chưa thực sự bắt kịp với sự phát triển của công nghệ, đã không thực sự bảo vệ bản quyền một cách hiệu quả trong môi trường Internet.

  1. Những thách thức pháp lý để bảo vệ bản quyền trên Internet

Internet đã mang lại rất nhiều lợi ích cho các tác giả, chủ sở hữu bản quyền và người dùng. Tuy nhiên, môi trường Internet cũng tạo điều kiện cho việc vi phạm bản quyền được thực hiện dễ dàng với mức độ thiệt hại rất cao và đặt ra nhiều thách thức đối với việc bảo vệ bản quyền, trong đó có nhiều thách thức pháp lý.

Về nguyên tắc, các quy định của pháp luật về quyền đạo đức và quyền sở hữu của các tác giả được áp dụng cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học nói chung, không phân biệt hình thức định dạng (tác phẩm In ấn truyền thống hoặc định dạng là tác phẩm kỹ thuật số hoặc tác phẩm số hóa. Tuy nhiên, Tính đặc thù của bảo vệ bản quyền trong môi trường kỹ thuật số đòi hỏi phải giải thích rõ ràng về một số quyền tài sản của chủ sở hữu bản quyền làm cơ sở để xác định hành vi. Vi phạm bản quyền và rộng hơn là bảo vệ bản quyền hiệu quả trong môi trường kỹ thuật số. không có tham vọng nghiên cứu tất cả các vấn đề pháp lý phát sinh trong bảo vệ bản quyền trong môi trường Internet mà chỉ giới hạn nghiên cứu về một số vấn đề nhất định.

Xác định quyền xâm phạm để sao chép và ngăn chặn và sao chép các hành vi trái phép

Theo Điều 4 (10) của Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam, sao chép được định nghĩa là “việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm hoặc ghi âm bằng bất kỳ phương tiện hoặc hình thức nào. “Việc sao chép có thể được thực hiện trực tiếp – việc tạo ra các bản sao từ các tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi âm hoặc gián tiếp – là việc tạo ra các bản sao khác không phải từ chính tác phẩm. , bản ghi âm thanh và video, chẳng hạn như sao chép từ các mạng thông tin điện tử, chương trình phát sóng, dịch vụ mạng viễn thông và bưu chính liên quan và các hình thức tương tự khác.[4] Các quy định trên của pháp luật Việt Nam quy định quyền sao chép trong các môi trường truyền thống như sao chép và sao chép trong môi trường kỹ thuật số, theo các điều ước quốc tế về bản quyền như Công ước Berne.[5] và WPPT[6]. Quyền sao chép tác phẩm là một trong những quyền sở hữu độc quyền thuộc bản quyền, bởi chủ sở hữu hoặc bởi người khác.

Quyền sao chép là một trong những quyền tài sản quan trọng nhất của chủ sở hữu bản quyền và cũng là quyền thường xuyên bị vi phạm nhất trong môi trường truyền thống (in, âm thanh, video) cũng như số môi trường. Trong môi trường Internet, việc sao chép và lưu trữ các công việc được thực hiện dễ dàng và nhanh chóng với số lượng bản sao khổng lồ nhưng chi phí rất thấp và chất lượng thì tuyệt vời. Sao chép truyền thống thường không tạo ra chất lượng tốt, đặc biệt nếu sao chép ảnh từ các bản sao. Nhưng trên môi trường Internet, có thể sao chép nhiều lần từ bản sao nhưng chất lượng được đảm bảo như bản gốc. Do đó, chỉ cần đưa một bản sao của tác phẩm lên Internet có thể đáp ứng nhu cầu của hàng triệu người. Sao chép trên Internet cũng nhanh chóng và dễ dàng, thuận tiện hơn nhiều so với sao chép trong môi trường truyền thống. Chỉ cần một máy tính cá nhân hoặc máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh, có thể dễ dàng sao chép công việc chỉ bằng một cú nhấp chuột. Các tác phẩm sao chép có thể dễ dàng được lưu trữ với một lượng lớn thông tin kỹ thuật số và giới hạn dung lượng này được mở rộng hàng năm, đủ để đáp ứng nhu cầu của thực tế với công nghệ ngày càng mới nổi. lớn hơn Bạn có thể vào bất kỳ trang web nào có tác phẩm nghe nhìn, người dùng Internet có thể nghe và xem trực tuyến thậm chí tải xuống các tác phẩm từ kho lưu trữ với hàng trăm ngàn tác phẩm âm nhạc, tác phẩm điện ảnh. Đây là một trong những lý do tại sao vi phạm bản quyền bị vi phạm nghiêm trọng trong môi trường Internet.

Tuy nhiên, việc bảo vệ bản quyền trong môi trường Internet đang phải đối mặt với một số vấn đề pháp lý phức tạp. Một trong những vấn đề đó là liệu các bản sao tạm thời có được bảo vệ bởi luật bản quyền hay không. Các vấn đề khác liên quan đến sao chép trong các trường hợp sử dụng giới hạn và ngoại lệ bản quyền. Luật bản quyền quy định rằng một số trường hợp sử dụng các tác phẩm được xuất bản không cần phải xin phép mà không trả thù lao miễn là việc sử dụng đó không ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm, không gây tổn hại đến quyền của tác giả và chủ bản quyền; phải cung cấp thông tin về tên tác giả và nguồn gốc và nguồn gốc của tác phẩm [7].  Câu hỏi đặt ra, trong môi trường Internet, làm thế nào để thực thi quyền sao chép trong những trường hợp này để thực sự đảm bảo sự cân bằng lợi ích giữa các tác giả, chủ sở hữu bản quyền và người dùng là đơn giản. Có thể cho một vài trường hợp. Thứ nhất, đối với trường hợp “sao chép không quá một bản sao cho mục đích giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học” theo Điều 25 (1 (a)) của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hoặc quyền sao chép không quá 10% hoặc 20% công việc (theo luật của một số quốc gia) mà không được phép, mức thù lao sẽ được thực hiện trong môi trường Internet như thế nào? Không có cơ chế để kiểm soát số lượng tác phẩm được sao chép cho mục đích giảng dạy, nghiên cứu khoa học về sao chép. Do đó, gần như không thể thực hiện quy định này trong môi trường Internet. Thứ hai, trường hợp sao chép một tác phẩm để lưu trữ trong thư viện cho mục đích nghiên cứu. Luật pháp Việt Nam yêu cầu trong trường hợp này, thư viện không được sao chép nhiều hơn một bản sao và không được sao chép, phân phối các bản sao của tác phẩm cho công chúng, bao gồm các bản sao kỹ thuật số.[8]. Tuy nhiên, trong trường hợp thư viện được phép sao chép để lưu trữ vẫn là vấn đề gây tranh cãi. Trong cuộc họp của Ủy ban Bản quyền và Quyền liên quan của WIPO vào tháng 12 năm 2013, vấn đề này đã được thảo luận và nhận được nhiều ý kiến khác nhau. Ý tưởng là quyền này chỉ được phép khi bản gốc không thể được lưu trữ, nhưng phần lớn các ý kiến cho rằng thư viện chỉ được quyền lưu trữ cho mục đích công cộng, phi lợi nhuận, để bảo tồn di sản. văn hóa [9].

Xác định hành vi xâm phạm quyền giao tiếp và phân phối tác phẩm

Quyền phân phối bản gốc hoặc bản sao của tác phẩm là quyền độc quyền của chủ sở hữu bản quyền để thực hiện hoặc cho phép người khác làm như vậy dưới bất kỳ hình thức hoặc phương tiện kỹ thuật nào có thể truy cập công khai. bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng bản gốc hoặc bản sao của tác phẩm. Đối với các tác phẩm nhựa và các tác phẩm nhiếp ảnh, quyền phân phối cũng bao gồm các màn hình và triển lãm công cộng. Quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng bằng dây, không dây, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác là quyền độc quyền của chủ sở hữu bản quyền để ủy quyền hoặc ủy quyền cho người khác hiện đang đưa tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm ra công chúng , có thể truy cập công chúng tại địa điểm và thời gian đã chọn[10].

Việc truyền tải và phân phối các tác phẩm trên Internet được tiến hành nhanh chóng và dễ dàng trên quy mô rộng hơn nhiều so với các phương pháp truyền thống. Internet được cho phép từ một máy chủ có thể truyền số lượng người không giới hạn và cho phép người dùng truy cập thông tin bất cứ lúc nào và nơi họ muốn. Với công nghệ P2P, việc chuyển giao công việc giữa các máy tính cá nhân được thực hiện dễ dàng hơn mà không cần máy chủ. Đặc biệt, mọi người dùng Internet đều có thể thực hiện hành động truyền tải công việc cho người khác, không giới hạn ở bất kỳ yếu tố nào. Vì vậy, nếu một tác phẩm được xuất bản trên Internet mà không có sự cho phép của chủ sở hữu bản quyền, thiệt hại sẽ rất lớn. Trong trường hợp này, các tác phẩm được xuất bản trái phép sẽ dẫn đến việc truyền tải, sao chép và thậm chí phân phối dễ dàng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền của tác giả và chủ sở hữu bản quyền. giả mạo. Trong trường hợp điện ảnh “Cánh đồng bất tận” là một ví dụ điển hình ở Việt Nam. Mặc dù bộ phim không có kế hoạch phát hành dưới dạng DVD tại thị trường Việt Nam, nhưng trên một số trang web, có một liên kết để chia sẻ bộ phim miễn phí. Trong thị trường băng đĩa, cũng có những bản sao “Cánh đồng bất tận” ngay lập tức dưới dạng đĩa DVD lậu. Mặc dù tất cả các hình ảnh của bộ phim là sơ bộ, chưa được xử lý theo xác nhận của nhà sản xuất nhưng vẫn được thị trường chấp nhận, gây thiệt hại lớn cho chủ sở hữu.

Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng thật dễ dàng để xuất bản, phổ biến và phân phối, lưu trữ các tác phẩm trên Internet. , với quy mô toàn cầu có cả tác động tích cực và tiêu cực đến bảo vệ bản quyền. Về mặt tích cực, Internet giúp các tác giả, chủ sở hữu bản quyền có thể quảng bá tác phẩm của họ tới một lượng lớn khán giả theo cách thuận tiện và tiết kiệm hơn so với phương pháp truyền thống trước đây. Internet cũng giúp thương mại hóa các sản phẩm này dễ dàng hơn với chi phí thấp hơn nhiều so với thương mại truyền thống. Ví dụ: khi Album nhạc được tải lên trang web, người dùng ở bất kỳ đâu trên thế giới có thể kết nối với Internet và có thể truy cập và sao chép chủ sở hữu bản quyền mà không phải tốn tiền. chi phí sản xuất, đóng gói, phân phối và tiếp thị đĩa CD / DVD đến các địa chỉ thực tế. Phân phối cũng không khó từ thủ tục hải quan hoặc các thủ tục cấp phép phức tạp khác. Mặt khác, Internet cũng tạo điều kiện cho người dùng truy cập, thậm chí sử dụng kinh doanh bất hợp pháp những tác phẩm này mà không trả tiền sử dụng, gây thiệt hại cho chủ sở hữu bản quyền. Với hàng triệu triệu người dùng Internet và hàng triệu trang web hiện nay, gần như không thể kiểm soát tất cả nội dung được đăng trên tất cả các trang web để đảm bảo bảo vệ bản quyền.

Trên thực tế, việc xác định vi phạm bản quyền đối với các tác phẩm trên môi trường Internet là không đơn giản. Đôi khi, việc sử dụng công việc trong môi trường truyền thống được coi là không vi phạm bản quyền, nhưng trong môi trường, số lượng vấn đề có thể được xem xét từ một khía cạnh khác. Ví dụ, trong các thư viện truyền thống ngày nay, trong thư viện thư viện sách của thư viện, được thư viện đặt hàng, sách được tặng từ các tổ chức và cá nhân có thể là chủ sở hữu quyền. tác giả, có thể không phải là chủ sở hữu bản quyền, sách được ký gửi. Những tác phẩm này có thể được lưu trữ trong một phiên bản duy nhất, có thể nhiều bản sao. Độc giả đến thư viện có thể đọc tại chỗ miễn phí, thậm chí trong một số trường hợp, nếu có nhiều sách về tác phẩm, độc giả có thể mượn chúng về nhà mà không bị tính phí. Trên thực tế, trong trường hợp này, hành vi này cũng cần được xem xét từ góc độ luật bản quyền. Tuy nhiên, trong thực tế ngày nay, đây được coi là một hoạt động bình thường của thư viện truyền thống để thực hiện các chức năng của nó mà không có bất kỳ sự phản đối nào từ chủ sở hữu bản quyền hoặc từ các cá nhân và tổ chức khác. Nếu thư viện số hóa các sách này, lưu trữ và cho phép truy cập hoặc phân phối trên Internet, đây là vi phạm quyền. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra, nếu vẫn từ các nguồn sách đó, thư viện số và lưu trữ dựa trên máy chủ của một bản sao của tác phẩm, cho phép người đọc chỉ truy cập trong mạng nội bộ của thư viện, không phải trên Internet, không có phí truy cập, không cho phép tải xuống, thư viện có vi phạm quyền sao chép và quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng không? Nếu được hiểu theo các quy định hiện hành của pháp luật, trong trường hợp này, thư viện đã vi phạm quyền sao chép và quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng. Nếu thư viện thu tiền khi người dùng truy cập nguồn dữ liệu này, thư viện sẽ vi phạm quyền phân phối tác phẩm. Tuy nhiên, thư viện có chức năng và nhiệm vụ để bảo tồn di sản của quốc gia; thu thập, lưu trữ và tổ chức khai thác và sử dụng chung các nguồn tài liệu trong xã hội để truyền bá kiến ​​thức, cung cấp thông tin để phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, làm việc và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao kiến ​​thức của mọi người, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước [11] . Nhưng trong các hoạt động của họ, thư viện có nghĩa vụ tuân thủ luật pháp về bản quyền. Suy nghĩ, luật pháp cần có các quy định cụ thể về bảo vệ bản quyền trong các hoạt động của thư viện, giải quyết xung đột trong bảo vệ bản quyền trong các thư viện kỹ thuật số với chức năng và nhiệm vụ của các thư viện.

Ngoài ra, khi vi phạm bản quyền được thực hiện với sự hỗ trợ của công nghệ mới, việc xác định sẽ khó khăn hơn. Trong nhiều trường hợp, luật pháp không theo kịp sự phát triển của công nghệ, không kịp thời điều chỉnh các hành vi vi phạm quyền xảy ra trong thực tế. Đặc biệt, trong trường hợp người vi phạm cố tình khai thác các tính năng của công nghệ mới để thực hiện hành vi vi phạm bản quyền ở mức độ tinh vi. Ví dụ: các trang web không trực tiếp lưu trữ tác phẩm hoặc không cho phép người dùng trực tiếp nghe nhạc, xem phim trực tuyến hoặc tải xuống các tệp mà chỉ cung cấp liên kết để người dùng truy cập. Truy cập vào các kho dữ liệu này. Không phải trong mọi trường hợp, việc cung cấp các liên kết chia sẻ dữ liệu là vi phạm bản quyền vì nhiều trang web cho phép truy cập miễn phí. Việc xác định quyền xâm phạm trong trường hợp này là không đơn giản. Hoặc với các máy tính Pear to Pear có thể chia sẻ dữ liệu với nhau, trong trường hợp này không dễ để xác định hành vi xâm phạm và trách nhiệm đối với quyền xâm phạm.

Bồi thường thiệt hại do vi phạm bản quyền trên Internet

Theo Điều 204 của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, các thiệt hại do vi phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: (i) thiệt hại vật chất bao gồm tổn thất tài sản, giảm thu nhập, lợi nhuận, mất cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn ngừa và khắc phục thiệt hại; (ii) thiệt hại về tinh thần bao gồm mất danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và các tổn thất tinh thần khác gây ra cho tác giả của các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; người thực hiện … Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở thiệt hại thực tế mà chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Xác định mức độ thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ luôn là một vấn đề trong thực tế và việc xác định thiệt hại do vi phạm bản quyền trong môi trường Internet khó khăn hơn nhiều. Ví dụ: trong trường hợp tác phẩm điện ảnh được lưu trữ và cho phép truy cập trái phép trên Internet, các công cụ kỹ thuật có thể được sử dụng để đếm số lượng khách truy cập để xem và / hoặc tải xuống tác phẩm. bất hợp pháp trên một trang web cụ thể. Trong trường hợp này, nếu giả định rằng việc xem và / hoặc tải xuống tác phẩm trực tuyến đã được xác định trước cho mỗi lần truy cập, có thể ước tính gần đúng tổn thất mà chủ sở hữu bản quyền đã thực sự mất. Tuy nhiên, vấn đề là nhiều trường hợp tác phẩm được sao chép bất hợp pháp từ một trang web, sau đó tiếp tục được đăng trên các trang web khác hoặc được chia sẻ bởi các cá nhân. Việc kiểm soát số lượng người truy cập trái phép trong trường hợp trên là rất khó khăn. Ngoài ra, cơ sở để đánh giá sự suy giảm thu nhập, lợi nhuận, mất cơ hội kinh doanh cho lĩnh vực bản quyền cũng đặc biệt khó khăn. Bởi vì việc sử dụng tác phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tâm lý của công chúng, khả năng thâm nhập nghệ thuật … Ví dụ, trường hợp tác phẩm điện ảnh “Cánh đồng bất tận”, “Bụi đời thị trường lớn” là tiết lộ trái phép trên Internet , sau đó nó được lưu hành rộng rãi trên mạng và được phân phối dưới dạng DVD lậu, rất khó để xác định mức độ thiệt hại chính xác. Bởi vì, không ai biết tác phẩm này, nếu nó được chiếu bên ngoài rạp chiếu phim, sẽ bán được bao nhiêu vé, được chiếu trong bao lâu? Doanh thu bao nhiêu?

Đối với thiệt hại về tinh thần, trong lĩnh vực bản quyền, đôi khi tổn thất về tinh thần nghiêm trọng hơn tổn thất về thể chất, nhưng rất khó để chứng minh tổn thất tinh thần, Bồi thường thiệt hại về hành tinh. Tinh thần tối đa chỉ 50.000.000 đồng là quá ít.

Xác định đối tượng chịu trách nhiệm bồi thường do vi phạm bản quyền trên Internet không phải là vấn đề đơn giản. Trong nhiều trường hợp, chủ sở hữu trang web che giấu danh tính thực sự của họ. Trong nhiều trường hợp khác, rất khó xác định thực thể vi phạm. Trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian[12] Trong việc bảo vệ bản quyền trong môi trường Internet và mạng viễn thông vì vi phạm bản quyền của người dùng đưa lên các trang mạng xã hội, đây cũng là một vấn đề gây tranh cãi ở nhiều quốc gia với cách giải pháp rất khác nhau. Tại Việt Nam, theo Thông tư chung 07/2012 / TTLT-BTTTT-BVHTTDL ngày 19 tháng 6 năm 2012 quy định trách nhiệm của các doanh nghiệp trung gian trong việc bảo vệ bản quyền và các quyền liên quan trên môi trường Internet và mạng viễn thông (Thông tư chung 07/2012 / TTLT-BTTTT-BVHTTDL), nhà cung cấp dịch vụ trung gian (ISP) có quyền thiết lập một hệ thống kiểm tra, giám sát và xử lý thông tin được đưa vào. , lưu trữ và truyền trên Internet và mạng viễn thông để ngăn chặn các hành vi vi phạm bản quyền và quyền liên quan, cũng như quyền đơn phương từ chối cung cấp dịch vụ trái pháp luật về bản quyền, quyền liên quan (bản quyền). Ngoài ra, các ISP có trách nhiệm xóa và xóa thông tin kỹ thuật số vi phạm bản quyền và các quyền liên quan, cắt, dừng và tạm dừng đường truyền Internet và viễn thông sau khi nhận được yêu cầu bằng văn bản. của Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Thanh tra Bộ Văn hóa Thông tin hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác. Đồng thời, ISP có trách nhiệm bồi thường trực tiếp cho các thiệt hại do vi phạm bản quyền và các quyền liên quan theo luật pháp về sở hữu trí tuệ và các luật khác có liên quan trong các trường hợp sau:

  1. a) Là nguồn xuất bản, truyền tải hoặc cung cấp nội dung thông tin số thông qua mạng viễn thông và Internet mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền;
  2. b) Khắc phục, cắt xén, sao chép nội dung thông tin kỹ thuật số dưới mọi hình thức mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền;
  3. c) Cố ý hủy bỏ hoặc vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật được thực hiện bởi chủ sở hữu quyền để bảo vệ bản quyền và các quyền liên quan;
  4. d) Hoạt động như một bản phân phối thứ cấp của nội dung thông tin kỹ thuật số do vi phạm bản quyền và các quyền liên quan [13] .

Nhiều ý kiến ​​cho rằng yêu cầu bồi thường của ISP trong các trường hợp này là quá nghiêm ngặt. Các biện pháp này chỉ nên được áp dụng trong trường hợp chủ sở hữu trang web không xóa nội dung của nội dung vi phạm bản quyền sau khi có được kết luận của thanh tra mà không đưa ra yêu cầu. Luật pháp ở một số quốc gia cũng không yêu cầu bồi thường cho các ISP.

Xác định tòa án có thẩm quyền

Vụ kiện tại tòa án yêu cầu bảo vệ bản quyền khi vi phạm bản quyền xảy ra ở một quốc gia, nhưng lưu trữ của trang web được đặt ở một quốc gia khác. Ở nhiều quốc gia, tòa án không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về vi phạm bản quyền trong môi trường Internet, nếu chủ sở hữu trang web ở nước ngoài và không có chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc tài năng. sản xuất tại nước sở tại. Trong trường hợp này, cần phải kiện ra tòa án nước ngoài. Ví dụ: trường hợp vi phạm bản quyền của “Năm ngoái – Apple 2014” hoạt động trên Internet. Công việc này đã được phân phối bất hợp pháp bởi một số đơn vị kinh doanh mạng trên Internet, bao gồm cả những tên tuổi lớn như YouTube. Điều đáng nói, đơn vị đầu tư và phát triển bảo mật công nghệ cao (CNC) được ủy quyền khai thác tác phẩm của Truyền hình Việt Nam – chủ sở hữu tác phẩm bản quyền, đã gửi thêm tài liệu cho 100 đơn vị kinh doanh mạng thông báo về các vấn đề bản quyền của chương trình . Khi phát hiện ra rằng chương trình được đăng tải bất hợp pháp trên YouTube, CNC đã có nhiều hành động để bảo vệ bản quyền của tác phẩm, bao gồm cả ý định khởi kiện tại tòa án. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là nếu chủ sở hữu bản quyền (đài truyền hình Việt Nam) khởi kiện tại Tòa án Việt Nam, liệu tòa án có thẩm quyền xét xử và nếu vậy, quyết định buộc YouTube (Mỹ)? Bồi thường cho CNC sẽ được giải quyết như thế nào? Câu hỏi có vẻ “không thực tế” bởi vì đối tượng bị xâm phạm là pháp nhân Việt Nam, hành động đưa tác phẩm trực tuyến xảy ra từ Việt Nam, tác phẩm được tạo ra tại Việt Nam và được pháp luật bảo vệ. Luật pháp Việt Nam và Hoa Kỳ trên cơ sở các điều ước quốc tế như Công ước Berne, thỏa thuận bản quyền giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ … tại sao vấn đề của tòa án Việt Nam có thẩm quyền hay không? Nhưng có thể khẳng định rằng nếu một vụ kiện được đệ trình lên tòa án Việt Nam, tòa án sẽ từ chối thụ lý vụ án vì bị đơn không có văn phòng hoặc chi nhánh tại Việt Nam, và không có tài sản ở Việt Nam. Nếu quyết định của tòa án Việt Nam buộc YouTube phải bồi thường cho người có quyền, khả năng thực thi tại Mỹ thậm chí còn thấp hơn. Để thi hành, bên thắng kiện phải thực hiện một thủ tục đòi hỏi phải công nhận và thi hành quyết định của tòa án Việt Nam tại Hoa Kỳ và khả năng được công nhận và thi hành là khó vì luật pháp Hoa Kỳ có trường hợp về vấn đề này [14] . Nếu chủ sở hữu bản quyền tiến hành các thủ tục để kiện YouTube tại Hoa Kỳ, chi phí sẽ rất tốn kém và khả năng chiến thắng là tối thiểu bởi vì, như đã đề cập ở trên, đã có phán quyết trước đó về vấn đề này. Chủ đề này và YouTube đã thắng.

  1. Giải pháp

    Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và sự đa dạng của các thiết bị có khả năng kết nối Internet, việc sử dụng Internet tăng lên gây ra nhiều vấn đề pháp lý phức tạp trong bảo vệ IP, đặc biệt là bản quyền. Mặc dù các chính phủ quốc gia đã nỗ lực rất nhiều trong việc thiết lập khung pháp lý quốc tế cũng như cải thiện luật pháp trong nước để bảo vệ các quyền này trong môi trường kỹ thuật số, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong việc thực thi các quyền nhưng rõ ràng là đảm bảo thực thi hiệu quả các quyền này trong một môi trường kỹ thuật số không phải là vấn đề đơn giản.

    Giải pháp tốt nhất để bảo vệ bản quyền trong môi trường Internet là sử dụng kết hợp các giải pháp pháp lý và giải pháp công nghệ. Một khung pháp lý đầy đủ và hiệu quả sẽ là một cơ sở quan trọng để bảo vệ bản quyền. Nhưng các giải pháp công nghệ đóng một vai trò quan trọng không kém so với các giải pháp pháp lý. Nếu công nghệ có thể được sử dụng để vi phạm bản quyền, ngược lại, công nghệ nên được sử dụng để ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền và bảo vệ quyền. Có nhiều giải pháp công nghệ đã được triển khai như ICOP (Chương trình cản trở nội dung bất hợp pháp). Hệ thống này cho phép, bằng phương tiện kỹ thuật để nhận ra các điểm đặc biệt và tìm kiếm tự động, có thể tự động theo dõi nội dung được sao chép trên Internet và tự động yêu cầu giám sát quá trình sao chép. Một cách khác là sử dụng P2P, một hình thức dịch vụ trực tuyến đặc biệt Cung cấp để quản lý và báo cáo nhận dạng và lưu trữ nội dung có thể tải xuống. Ngoài ra, gần đây công nghệ điện toán đám mây cũng là một trong những lựa chọn tốt để góp phần bảo vệ các tác phẩm trên Internet một cách an toàn hơn. Trước đây, chỉ có các doanh nghiệp lớn có đủ ngân sách để đầu tư vào cơ sở hạ tầng và giải pháp để triển khai các giải pháp CNTT để bảo vệ bản quyền nội dung số. Ngày nay, với công nghệ điện toán đám mây, các doanh nghiệp thuê cơ sở hạ tầng và phần mềm hệ thống để triển khai bảo vệ bản quyền nội dung số với chi phí đầu tư và công nghệ tốt hơn và hiệu quả hơn.

    Ngoài các giải pháp pháp lý và công nghệ, cần tiếp tục nâng cao năng lực của các cơ quan để thực hiện và tuyên truyền rộng rãi cho người dùng các quy định của luật sở hữu trí tuệ để nâng cao nhận thức về bảo vệ. Quyền của người sử dụng. Chủ bản quyền cần áp dụng các biện pháp công nghệ để bảo vệ quyền của mình và chủ động yêu cầu xử lý vi phạm khi xâm phạm quyền của họ.

    [1] Báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Hội nghị về Tóm tắt Thực hiện 5 năm Chỉ thị số 36/2008 / CT-TOT về tăng cường quản lý thực thi và bảo vệ bản quyền và các quyền liên quan, trang 9, 10.

    [2] Jung Tae Sun, Tình hình vi phạm bản quyền ở Hàn Quốc và tương lai triển vọng, thuyết trình tại Hội thảo về “Bảo vệ bản quyền trong lĩnh vực phim ảnh và truyền hình trong môi trường kỹ thuật số”, trang 5.

    [3] Xem chi tiết tại: , truy cập vào ngày 20 tháng 5 năm 2014.

    [4] Cách 31 (1,2) Nghị định 100/2006 / ND-CP ban hành của Chính phủ vào ngày 21 tháng 9 năm 2006, quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu Trí tuệ về bản quyền và các quyền liên quan (Nghị định 100/2006 / ND-CP).

    [5] Điều 9 của Công ước Berne về bảo vệ các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học (Công ước Berne).

    [6] được chỉ định trong Điều 7

    [7] Điều 25 của Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam, Điều 9 của Công ước Berne

    [8] Điều 25 (1 (d) Luật sở hữu trí tuệ và Điều 25 (2) Nghị định số 100/2006 / ND-CP của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự và Luật Quyền sở hữu trí tuệ về bản quyền và các quyền liên quan, được sửa đổi và bổ sung bởi Nghị định số 85/2011 / ND-CP và Nghị định số 01/2012 / ND-CP (Nghị định số 100/2006 / ND -CP)

    [9] Tài liệu làm việc có chứa nhận xét về một văn bản trong một văn bản pháp lý quốc tế (trong phần mềm, bạn có thể sử dụng ngoại lệ và tài liệu lưu trữ, được chấp nhận bởi tài khoản và tài liệu lưu trữ, được thông qua bởi Ủy ban quyền tác giả và quyền liên quan, WIPO, tại Phiên họp thứ 26 tại Geneva, ngày 16 đến ngày 20 tháng 12 năm 2013.

    [10] Điều 25 Nghị định số 100/2006 / ND-CP

    [11] Điều 1 Pháp lệnh thư viện số 31/2000 / PL-UBTVQH10 ngày 28 / 12/2010

    [12] Dịch vụ trung gian bao gồm dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet, dịch vụ mạng xã hội trực tuyến, thông tin kỹ thuật số dịch vụ tìm kiếm, dịch vụ cho thuê thông tin kỹ thuật số, bao gồm cả không gian cho thuê. Lưu trữ các trang thông tin điện tử.

    [13] Xem chi tiết trong Điều 5 của Thông tư

    [14] Đây là trường hợp luật bản quyền giữa nhóm giải trí YouTube và Viacom được phát hành bởi Tòa án Liên bang vào ngày 23 tháng 6 năm 2010. Phán quyết đã được xác định, YouTube là một dịch vụ web mở, cho phép người dùng tự do đăng các nội dung khác nhau. Mặc dù YouTube chứa các video vi phạm bản quyền của Viacom, nhưng vì nội dung quá nhiều, YouTube không thể kiểm soát tất cả. Ngoài ra, khi nhận được thông báo từ chủ bản quyền, YouTube đã nhanh chóng xóa nội dung đó.