(Bản án và bình luận bản án)

Đỗ Văn Đại*

Lê Thị Nam Giang**

Bản án số 127/2007/DSPT ngày 14-6-2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Năm 2001 và năm 2003 ông Đào Thái Tôn đã in và tái bản quyển “Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và Thảo luận” do ông Tôn đứng tên tác giả. Trong quyển này ông Đào Thái Tôn đã hợp tuyển 10 bài trong phần 2 (phần Thảo luận) có in 4 bài của ông Nguyễn Quảng Tuân gồm:

– Bài “Một vài nhận xét về nghiên cứu Truyện Kiều” của cố học giả Hoàng Xuân Hãn.

– Bài “Hãy trở lại đúng vấn đề nhận xét việc nghiên cứu Truyện Kiều”.

– Bài “Về bài Hoàng Xuân Hãn và việc khôi phục nguyên tác Truyện Kiều”.

– Bài trả lời ông Đào Thái Tôn về bài “Nhân một bài nhận xét về việc nghiên cứu Truyện Kiều”.

Do ông Đào Thái Tôn khi đưa in 4 bài nêu trên của ông Tuân vào trong tác phẩm nghiên cứu của mình là “Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và thảo luận”, ông Tôn đã không xin phép ông Tuân, nên ông Tuân đã làm đơn khởi kiện ông Tôn về xâm phạm quyền tác giả, đồng thời đòi ông Tôn bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần. Còn phía ông Đào Thái Tôn thừa nhận có việc ông đưa in 4 bài của ông Tuân nhưng ông không phải xin phép ông Tuân bởi lẽ các bài này của ông Tuân đã được in trên báo chí, đã được công bố. Mục đích ông đưa 4 bài của ông Tuân vào tác phẩm của mình nhằm dựng lại trung thành cuộc tranh luận, mang tính nghiên cứu khoa học chứ không nhằm mục đích thương mại và được pháp luật cho phép.

Xét thấy:

Ông Đào Thái Tôn và ông Nguyễn Quảng Tuân đều là những nhà Kiều học có thâm niên trong việc nghiên cứu khảo luận văn bản Truyện Kiều. Chính vì vậy mà trong rất nhiều năm, trên các phương tiện thông tin đại chúng đã xuất hiện nhiều bài tranh luận của hai ông với nhau về việc nghiên cứu văn bản Truyện Kiều. Do đó, để nhìn nhận, đánh giá việc ông Tôn đưa 4 bài của ông Tuân trong số 10 bài ông Tôn đưa vào phần 2 thảo luận của cuốn “Truyền Kiều Nghiên cứu và thảo luận” có xâm phạm quyền tác giả hay không thì phải đánh giá một cách khách quan, toàn diện, đánh giá trong điều kiện, bối cảnh của việc cho ra đời tác phẩm này.

Sở dĩ, ông Đào Thái Tôn tập hợp 10 bài trong phần thảo luận, trong đó có 4 bài của ông Nguyễn Quảng Tuân thì ở các bài này đều phản ánh rất rõ đây đều là những bài tranh luận về phương pháp nghiên cứu văn bản học Truyện Kiều do giáo sư Hoàng Xuân Hãn đề xuất trước khi qua đời và cuộc tranh luận diễn ra rất sôi nổi trong nhiều năm (1997-1999). Khi nghiên cứu 4 bài của ông Tuân, ông Tôn đã phải trích nguyên văn bài và chỉ ra 82 lỗi sai sót về mặt nhận thức trong 4 bài viết của ông Tuân (tổng số chữ trong 4 bài của ông Tuân là 16.545 chữ, thì có 82 lỗi) mà trong bình chú ông Tôn phê bình ông Tuân cho là ông Tuân không trung thực và non kém vè mặt chuyên môn, thế nhưng cho đến khi xảy ra tranh chấp ông Tuân không có bài tranh luận lại. Và như vậy, rõ ràng ông Tôn đã dựng lại trung thực toàn bộ cuộc tranh luận nhằm mục đích nghiên cứu, phổ biến thông tin thì ông Tôn phải in trọn 4 bài của ông Tuân một cách đầy đủ để người đọc mới hiểu hết được những nội dung cần tranh luận. Các bài của ông Tuân không bị cắt xén, nối ghép, xuyên tạc, và tên tác giả vẫn được đề vào cuốn sách rõ ràng thể hiện nguồn gốc tác phẩm, tác giả. Và tuy là “in toàn văn” nhưng thực chất ông Tôn trích dẫn, bởi ông Tôn đã xen vào các đoạn trong các bài viết của ông Tuân những lời bình chú của mình, mục đích là để người đọc dễ đối chiếu và nhận ra những sai sót trong các bài của ông Tuân. Như vậy, cần phải khẳng định đây là một tác phẩm nghiên cứu khoa học, một chỉnh thể sáng tạo của ông Tôn, chứ ông Tôn không phải đơn thuần chỉ là hợp tuyển các bài của nhiều tác giả để in thành sách với mục đích thương mại. Mặt khác, trên thực tế ông Tôn nhận 7.000.000 đồng tiền nhuận bút là nhận tiền của tác phẩm “Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và Thảo luận” theo quy định của pháp luật về chế độ nhuận bút, ông Tôn cũng không được chia xẻ lợi nhuận từ việc in tác phẩn trên của các nhà xuất bán sách, theo đó ông Tôn không phải nhận tiền 4 bài của ông Tuân. Chiếu theo các Điều 750, 751, 760 Bộ luật dân sự năm 1995, Nghị định 76/CP và tham khảo nội dung quy định tại Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ thì việc làm của ông Tôn là không trái pháp luật. Cụ thể ở Điều 760 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: “Cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm của người khác đã được công bố, phổ biến, nếu tác phẩm không bị cấm sao chụp và việc sử dụng không nhằm mục đích kinh doanh và không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm; cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm không phải xin phép và không phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, nhưng phải ghi hoặc nhắc tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm”.

Như vậy, rõ ràng việc ông Tôn đưa in 4 bài của ông Tuân nhằm mục đích phê bình trong phần thảo luận là không vi phạm bản quyền tác giả.

Xét việc Tòa án cấp sơ thẩm lập luận cho rằng hành vi xâm phạm quyền tác giả của ông Tôn xảy ra từ năm 2001-2003, nên căn cứ khoản 3 Điều 46 Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21-9-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan để áp dụng Bộ luật dân sự năm 1995 khi xem xét và quyết định là đúng. Tuy nhiên, trong việc đánh giá chứng cứ, Toà án cấp sơ thẩm đã có sai lầm ở chỗ cho rằng hình thức sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả thù lao chỉ là trích dẫn tác phẩm, chứ không phải in toàn bộ bài của tác giả, đồng thời căn cứ vào ý kiến của cá nhân ông Cục trưởng Cục Bản quyền Bộ Văn hóa thông tin mang tính tham khảo để cho rằng việc sử dụng 4 bài viết của ông Tuân mà lại không xin phép ông Tuân là vi phạm quyền tác giả và vì vậy cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 750 quy định về quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra và áp dụng Điều 751, Điều 759 quy định về quyền nhân thân, quyền yêu cầu được bảo hộ để xác định 4 bài viết của ông Tuân đã bị ông Tôn đưa vào tác phẩm mang tính nghiên cứu khoa học nhằm tranh luận, bình chú là vi phạm và áp dụng các chế tài quy định tại các Điều 27, 609, 610, 615 Bộ luật dân sự năm 1995, buộc ông Tôn phải bồi thường thiệt hại cho ông Tuân là không đúng, mà lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm cần áp dụng các Điều 760, 761 Bộ luật dân sự năm 1995 để bác đơn khởi kiện của ông Tuân mới phù hợp pháp luật hiện hành.

Xét kháng cáo của ông Đào Thái Tôn yêu cầu ông Tuân bồi thường danh dự, tổn hại sức khỏe và vật chất do ông Tuân khởi kiện vu khống ông về 3 hành vi cho rằng ông Tôn đã bịa đặt ông Tuân chiếm đoạt bản Kim Vân Kiều Truyện 1886; bịa đặt ông Tuân chiếm đoạt bản Liễu Văn Đường từ người học trò của ông Tôn, và bịa đặt ông Tuân làm giả tờ bìa quyển Đoạn Trường Tân Thanh. Xét việc này Toà án cấp sơ thẩm không đặt ra giải quyết vì lẽ hành vi vu khống do quan hệ pháp luật hình sự điều chỉnh, ông Vũ đã rút yêu cầu này từ giai đoạn đầu nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp thuận đơn phản tố của ông là đúng pháp luật. Một hành vi không thuộc sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự thì không thể xem xét trong vụ án dân sự và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay luật sư Nguyễn Thắng Cảnh cũng đồng tính với ông Tôn về việc rút kháng cáo về phần này.

Vì các lẽ trên, áp dụng khoản 2 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo của ông Đào Thái Tôn và sửa bản án sơ thẩm.

– Áp dụng Điều 760, 761 Bộ luật dân sự năm 1995.

Áp dụng điểm b khoản 2 Nghị quyết số 45/2005-QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về thi hành Bộ luật dân sự.

Tuyên xử: Bác đơn khởi kiện xâm phạm quyền tác giả và bồi thường thiệt hại của ông Nguyễn Quảng Tuân do ông Cù Huy Hà Vũ đại diện đối với ông Đào Thái Tôn.

– Chấp nhận việc rút đơn phản tố của ông Đào Thái Tôn tại phiên tòa phúc thẩm.

– Bác các yêu cầu khác của các đương sự.

Án phí: ông Nguyễn Quảng Tuân phải chịu 3.750.000đồng án phí dân sự sơ thẩm (được khấu trừ 195.000đồng đã nộp theo biên lai số 003334 ngày 13-2-2006).

– Ông Tôn không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

 Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

ban-quyen

Bình luận

  1. Quyền sử dụng tác phẩm của người khác. Nhằm khuyến khích sự sáng tạo của tác giả và bù đắp hợp lý các chi phí mà tác giả phải bỏ ra cho quá trình sáng tạo, trong suốt thời hạn bảo hộ tác phẩm, các tác giả, chủ sở hữu tác phẩm được hưởng các độc quyền đối với tác phẩm của mình. Tuy nhiên, để tránh sự lạm dụng độc quyền của chủ sở hữu tác phẩm và nhằm đảm bảo cho công chúng được quyền sử dụng khai thác tác phẩm vì mục đích phát triển khoa học, văn học và mục đích giáo dục, pháp luật các nước đều quy định các trường hợp được sử dụng tác phẩm mà không cần xin phép, không cần trả tiền bản quyền. Quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm của người khác mà không cần xin phép, không phải trả thù lao luôn giữ vai trò quan trọng trong pháp luật về quyền tác giả của hiều nước.

Có những nước như Hoa Kỳ quy định vấn đề này rất chi tiết từ Điều 107 đến điều 112 Luật bản quyền Hoa Kỳ[1]. Theo quy định của luật bản quyền của Hoa Kỳ, sử dụng hợp lý tác phẩm như sao chép hoặc bất cứ hình thức nào được quy định cho mục đích bình luận, phê bình, đưa tin hoặc giảng dạy, nghiên cứu và học tập là không vi phạm quyền tác giả..Việc xem xét đó phải căn cứ vào các yếu tố sau: 1. Mục đích và đặc điểm của việc sử dụng; 2. Bản chất của tác phẩm được bảo hộ; 3. Số lượng và thực chất của phần được sử dụng trong tác phẩm được bảo hộ như là một tổng thể; 4. Sự ảnh hưởng của việc sử dụng đó đối với tiềm năng thị trường hoặc đối với giá trị của tác phẩm được bảo hộ[2]. Ngoài ra, Luật bản quyền Hoa Kỳ còn dành 05 đều luật từ Điều 108-112 để quy định chi tiết về các trường hợp sử dụng hợp lý tác phẩm. Ở Pháp cũng vậy. Bộ luật về sở hữu trí tuệ cũng có quy định việc sử dụng tác phẩm của người khác. Chẳng hạn, theo Điều L. 122-5, “khi tác phẩm đã được công bố, tác giả không được cấm phân tích và trích dẫn ngắn vì lý do phê bình, tranh luận, sư phạm, khoa học hay thông tin của tác phẩm mà phần phân tích, trích dẫn được đưa vào nếu nêu rõ tên tác giả và nguồn gốc”.

Ở Việt Nam chúng ta cũng có quy định theo hướng như vậy trong BLDS năm 1995 và Luật sở hữu trí tuệ năm 2005. Tuy nhiên, ranh giới giữa những hành vi sử dụng tác phẩm của người khác được coi là cho phép và không được coi là được cho phép còn quá mỏng manh và thường xảy ra tranh chấp. Vụ việc mà chúng ta sẽ bình luận bản án là một minh họa và đáng được quan tâm.

  1. Hoàn cảnh phát sinh tranh chấp. Để tiện cho việc theo dõi, chúng ta nên biết về hoàn cảnh phát sinh tranh chấp. Cụ thể, năm 2001 và năm 2003 ông Đào Thái Tôn đã in và tái bản quyển “Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và Thảo luận” do ông Tôn đứng tên tác giả. Trong quyển này ông Đào Thái Tôn đã hợp tuyển 10 bài trong phần 2 (phần Thảo luận) có in 4 bài của ông Nguyễn Quảng Tuân gồm:

– Bài “Một vài nhận xét về nghiên cứu Truyện Kiều” của cố học giả Hoàng Xuân Hãn.

– Bài “Hãy trở lại đúng vấn đề nhận xét việc nghiên cứu Truyện Kiều”.

– Bài “Về bài Hoàng Xuân Hãn và việc khôi phục nguyên tác Truyện Kiều”.

– Bài trả lời ông Đào Thái Tôn về bài “Nhân một bài nhận xét về việc nghiên cứu Truyện Kiều”.

Do ông Đào Thái Tôn khi đưa in 4 bài nêu trên của ông Tuân vào trong tác phẩm nghiên cứu của mình là “Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và thảo luận”, ông Tôn đã không xin phép ông Tuân, nên ông Tuân đã làm đơn khởi kiện ông Tôn về xâm phạm quyền tác giả.

  1. Áp dụng BLDS năm 1995. Trong vụ việc này, cả Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm đều sử dụng những quy định của BLDS năm 1995 để giải quyết.

          Cụ thể, trong bản án sơ thẩm, Tòa án đã áp dụng “điều 27, 609, 610, 615, 750, 751, 754, 759 Bộ luật Dân sự năm 1995” và Tòa phúc thẩm đã sử dụng “Điều 760, 761 Bộ luật dân sự năm 1995” để giải quyết tranh chấp.

          Thiết nghĩ, việc áp dụng pháp luật như vậy là thuyết phục vì hành vi sử dụng tác phẩm của người khác của ông Tôn được tiến hành vào năm 2001 và 2003, thời điểm BLDS năm 1995 vẫn có hiệu lực. Thực tế, Tòa phúc thẩm cũng đã lý giải vấn đề này trong bản án của mình: “việc Tòa án cấp sơ thẩm lập luận cho rằng hành vi xâm phạm quyền tác giả của ông Tôn xảy ra từ năm 2001-2003, nên căn cứ khoản 3 Điều 46 Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21-9-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan để áp dụng Bộ luật dân sự năm 1995 khi xem xét và quyết định là đúng”.

  1. Vấn đề pháp lý cụ thể. Thực ra việc trích dẫn các điều luật trên còn ở hình thức còn khác chung chung vì Điều 760, 761 Bộ luật dân sự năm 1995 đề cập đến nhiều hành vi sử dụng tác phẩm của người khác mà không cần xin phép, trả thù lao nhưng chỉ nhưng vấn đề thực chất trong vụ việc này là hành vi của ông Tôn có phải là hành vi trích dẫn không cần xin phép và trả thù lao cho tác giả hay không. Căn cứ vào Điều 760, 761 Bộ luật dân sự năm 1995, để thuộc trường hợp không cần xin phép và không phải trả thù lao cho tác giả, hành vi của người sử dụng phải thỏa mãn một số điều kiện. Thứ nhất, hành vi sử dụng phải thuộc một trong những hành vi được liệt kê tại Điều 761[3]; thứ hai, việc hành vi này phải thỏa mãn những yêu cầu của Điều 760[4].

I- Hành vi trong danh sách

        5. Khái niệm. Điều 761, BLDS năm 1995 cho chúng ta một danh sách những hành vi sử dụng tác phẩm của người khác mà không cần xin phép, trả thù lao cho tác giả khi thỏa mãn các yêu cầu của Điều 760. Trong danh sách này, hành vi “trích dẫn tác phẩm mà không làm sai lạc ý của tác giả để bình luận hoặc minh hoạ trong tác phẩm của mình” là nội dung được bàn luận liên quan đến vụ việc này.

          BLDS sử dụng thuật ngữ “trích dẫn tác phẩm” nhưng không định nghĩa “trích dẫn” ở đây được hiểu như thế nào. Văn bản hướng dẫn cũng không thực sự rõ nét trong vấn đề này. Điều 12 NĐ 76/CP quy định: “Phần trích dẫn tác phẩm đã công bố của người khác theo quy định tại các điểm b, c, d khoản 1 Điều 761 của Bộ luật không trở thành phần chính của tác phẩm mới; phần trích dẫn này chỉ giới hạn trong phạm vi giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề trong tác phẩm của mình và phải ghi rõ tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm được trích dẫn”. Trong ngôn ngữ tiếng Việt, trích dẫn được hiểu là “dẫn nguyên văn một câu hay một đoạn văn nào đó[5]. Định nghĩa này không đầy đủ vì chỉ quan tâm tới “đoạn văn” trong khi đó trích dẫn có thể được sử dụng cả với những lĩnh vực khác nhưng dù sao cũng cho biết trích toàn bộ một tác phẩm không nằm trong định nghĩa của “trích dẫn”. Theo một tác giả, “trích dẫn là việc sử dụng một tác phẩm (không đáng kể) của người khác để nêu bật ý tác giả[6]. Như vậy, nhìn chung, “trích dẫn” không thể là sử dụng “toàn bộ” tác phẩm của người khác.

          Lưu ý là hành vi trích dẫn phải được người trích dẫn thể hiện “trong tác phẩm của mình”. Yêu cầu này không được Tòa án phân tích sâu nhưng Tòa án cũng đã thừa nhận tài liệu của ông Tôn là một tác phẩm nên yêu cầu được thỏa mãn. Cụ thể, theo Tòa phúc thẩm, “cần phải khẳng định đây là một tác phẩm nghiên cứu khoa học, một chỉnh thể sáng tạo của ông Tôn, chứ ông Tôn không phải đơn thuần chỉ là hợp tuyển các bài của nhiều tác giả để in thành sách với mục đích thương mại”.

  1. Xác định. Trong vụ việc trên, chúng ta thấy ông Tôn đã sử dụng toàn bộ tác phẩm của ông Tuân nhưng có thêm vào đó một số lời nhận xét.

          Theo Tòa án cấp sơ thẩm, “chính ông Tôn cũng thừa nhận 4 bài ông in trong quyển “Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và thảo luận” của ông tác giả là ông Nguyễn Quảng Tuân và ông không xin phép ông Tuân vì luật pháp cho phép. Ông Tôn cho rằng căn cứ vào điều 760 – 761 Bộ luật dân sự năm 1995 thì 4 bài viết của ông Tuân là tài liệu công khai, đã được đăng tải trên báo trí, không thuộc tài liệu cấm sao chụp và ông sử dụng 4 bài này để nghiên cứu khoa học, không nhằm mục đích kinh doanh… Ông in toàn bộ bài của ông Tuân để bình luận… Nhưng tại điều 761 quy định các hình thức sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả thù lao thì chỉ là “trích dẫn tác phẩm…” chứ không phải là in toàn bộ bài của tác giả. Nên việc ông Tôn cho rằng ông in 4 bài của ông Tuân trong quyển “Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và thảo luận” không phải xin phép ông Tuân vì luật pháp cho phép là không có cơ sở”[7].

Tuy nhiên, đây không là quan điểm của Tòa phúc thẩm. Bởi lẽ, theo Tòa phúc thẩm, “Sở dĩ, ông Đào Thái Tôn tập hợp 10 bài trong phần thảo luận, trong đó có 4 bài của ông Nguyễn Quảng Tuân thì ở các bài này đều phản ánh rất rõ đây đều là những bài tranh luận về phương pháp nghiên cứu văn bản học Truyện Kiều do giáo sư Hoàng Xuân Hãn đề xuất trước khi qua đời và cuộc tranh luận diễn ra rất sôi nổi trong nhiều năm (1997-1999). Khi nghiên cứu 4 bài của ông Tuân, ông Tôn đã phải trích nguyên văn bài và chỉ ra 82 lỗi sai sót về mặt nhận thức trong 4 bài viết của ông Tuân (tổng số chữ trong 4 bài của ông Tuân là 16.545 chữ, thì có 82 lỗi) mà trong bình chú ông Tôn phê bình ông Tuân cho là ông Tuân không trung thực và non kém vè mặt chuyên môn, thế nhưng cho đến khi xảy ra tranh chấp ông Tuân không có bài tranh luận lại. Và như vậy, rõ ràng ông Tôn đã dựng lại trung thực toàn bộ cuộc tranh luận nhằm mục đích nghiên cứu, phổ biến thông tin thì ông Tôn phải in trọn 4 bài của ông Tuân một cách đầy đủ để người đọc mới hiểu hết được những nội dung cần tranh luận. Các bài của ông Tuân không bị cắt xén, nối ghép, xuyên tạc, và tên tác giả vẫn được đề vào cuốn sách rõ ràng thể hiện nguồn gốc tác phẩm, tác giả. Và tuy là “in toàn văn” nhưng thực chất ông Tôn trích dẫn, bởi ông Tôn đã xen vào các đoạn trong các bài viết của ông Tuân những lời bình chú của mình, mục đích là để người đọc dễ đối chiếu và nhận ra những sai sót trong các bài của ông Tuân”.

  1. Nhận xét. Đối chiếu với những trình bày ở trên, trong trường hợp này, hành vi của Ông Tôn không được coi là hành vi trích dẫn, vì ở đây ông Tôn đã in lại nguyên văn bốn bài viết của ông Tuân. Ngay trong phán quyết của Toà phúc thẩm cũng khẳng định“in toàn văn”. Chúng tôi cho rằng lập luận này của Toà phúc thẩm là thiếu logic vì hành vi trích dẫn khác với hành vi in toàn văn một tác phẩm. Không nhất thiết muốn bình luận một tác phẩm nào đó là chúng ta phải trích dẫn nguyên văn tác phẩm và ngay Điều 12 Nghị định 76/CP cũng khẳng định “phần trích dẫn này chỉ giới hạn trong phạm vi giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề trong tác phẩm của mình”.

Thực chất, việc giải quyết những tranh chấp về trích dẫn tác phẩm khá phổ biến trong thực tiễn xét xử ở một số nước. Ở Pháp, các nhà lập pháp cũng chỉ cho phép “trích dẫn ngắn” như chúng ta đã nêu trong đoạn một và theo Tòa án tối cao pháp, “việc sao lại toàn bộ một tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào không được coi là trích dẫn ngắn” (Ví dụ: Cass. 1re civ., 7 nov. 2006). Thực tế án lệ của Pháp rất “nghiêm khắc” với việc trích dẫn thái quá tác phẩm của người khác. Nếu phần trích dẫn trở thành phần quan trọng của tác phẩm mới thì đó là hành vi xâm phạm quyền tác giả cho dù có thêm phần bình luận, nhận xét của người trích dẫn vào trong phần trích dẫn[8]. Chúng ta cũng nên tham khảo việc áp dụng những quy định về trích dẫn ở nước ngoài khi giải quyết những vấn đề này.

Ngoài ra, liên quan đến trích dẫn, Điều 761 còn đề cập đến mục đích của việc trích dẫn. Đó là “để bình luận hoặc minh hoạ trong tác phẩm” của người trích dẫn. Ở đây, ông Tôn trích dẫn để “phê bình” ông Tuân. Phải chăng ông Tôn đã không tôn trọng mục đích sử dụng này? Tuy nhiên, câu trả lời không đơn giản vì “bình luận” cũng hàm ý cả phê bình. Hơn nữa, nếu chúng ta chỉ chấp nhận “trích dẫn” để “ca ngợi” lẫn nhau thì đây cũng không phải là hướng đi tốt: phê bình có thể là động cơ để phát triển.

II- Những yêu cầu để trích dẫn được chấp nhận

  1. Tên và nguồn gốc. Trong các yêu cầu của Điều 760 chúng ta thấy yêu cầu “phải ghi hoặc nhắc tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm”. Yêu cầu này dường như dựa trên cơ sở của việc tôn trọng quyền nhân thân của tác giả và “đạo đức nghề nghiệp” khi sử dụng tác phẩm của người khác. Yêu cầu này dường như đã được đáp ứng trong vụ việc này nên chúng ta không tập trung bình luận. Tại Toà án, ông Tôn xác nhận có in 4 bài của ông Tuân trong quyển “Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và thảo luận”, ông in toàn văn và ghi rõ cả tên tác giả của 4 bài đó ông Tuân là tác giả của 4 bài viết trên. Và theo Tòa phúc thẩm “tên tác giả vẫn được đề vào cuốn sách rõ ràng thể hiện nguồn gốc tác phẩm, tác giả”.
  1. Khai thác bình thường tác phẩm. Theo Điều 760, BLDS năm 1995, “cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm của người khác “không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm”.

Yêu cầu này đã được thỏa mãn trong vụ việc trên không? Tòa án sơ thẩm không đề cập đến vấn đề này vì có lẽ, theo tinh thần của Tòa sơ thẩm, do đây không là hành vi trích dẫn trong danh sách của Điều 761 nên hành vi này đã xâm phạm quyền tác giả nên không nhất thiết phải đánh giá thêm những yêu cầu khác. Về phía mình, Tòa phúc thẩm cho rằng đây là trường hợp trích dẫn. Tuy nhiên, cho dù là trích dẫn theo nghĩa của Điều 761, chúng ta vẫn còn phải thỏa mãn yêu cầu khác của Điều 760.

Trong vụ việc trên, chúng ta có thể suy luận rằng việc ông Tôn sử dụng tác phẩm của ông Tuân là “ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm”. Bỡi lẽ, do ông Tôn đưa toàn bộ tác phẩm của ông Tuân vào tác phẩm của mình nên người đọc không cần tìm kiếm những tài liệu mà tác phẩm của ông Tuân được công bố. Điều đó có nghĩa là tài liệu phát hành tác phẩm của ông Tuân không được khai thác bình thường và do đó có thể coi là đã xâm hại đến quyền lợi của ông Tuân hay tổ chức đã công bố tác phẩm của ông Tuân. Nếu chúng ta cho phép một người sử dụng nguyên văn một tác phẩm của người khác với một vài bình luận, nhận xét cá nhân thì chúng ta sẽ giảm khả năng tiêu thụ tác phẩm gốc được in hay xuất bản ở nơi khác. Do đó, việc cho sử dụng nguyên văn tác phẩm của người khác không nên được chấp nhận cho dù có thêm lời nhận xét cá nhân.

  1. Vai trò của chuyên gia. Một điều khá lý thú trong vụ việc này là có sự tham gia của chuyên gia và do đó cho chúng ta cơ hội để nghiên cứu thêm về vai trò của họ khi giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ tại tòa án.

          Lĩnh vực sở hữu trí tuệ khá phức tạp nên việc cần sự nhận xét của các chuyên gia là điều dễ hiểu. Trong vụ việc này, Tòa án sơ thẩm đã sử dụng ý kiến của cá nhân ông Cục trưởng Cục Bản quyền Bộ Văn hóa thông tin. Cụ thể, theo Tòa sơ thẩm, “Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã trao đổi ý kiến với Cục bản quyền tác giả văn học và nghệ thuật – Bộ văn hoá thông tin thì Cục bản quyền tác giả văn học nghệ thuật cũng cho rằng việc ông Tôn in 4 bài viết của ông Tuân trong “Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và thảo luận” mà không được sự đồng ý của ông Tuân là hành vi xâm phạm quyền tác giả chứ không được coi là hành vi trích dẫn hợp lý nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩm. Do đó, yêu cầu của ông Tuân đối với ông Tôn về xâm phạm quyền tác giả là có căn cứ”. Tuy nhiên, theo Tòa phúc thẩm, “trong việc đánh giá chứng cứ, Toà án cấp sơ thẩm đã có sai lầm ở chỗ cho rằng hình thức sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả thù lao chỉ là trích dẫn tác phẩm, chứ không phải in toàn bộ bài của tác giả, đồng thời căn cứ vào ý kiến của cá nhân ông Cục trưởng Cục Bản quyền Bộ Văn hóa thông tin mang tính tham khảo để cho rằng việc sử dụng 4 bài viết của ông Tuân mà lại không xin phép ông Tuân là vi phạm quyền tác giả và vì vậy cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 750 quy định về quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra và áp dụng Điều 751, Điều 759 quy định về quyền nhân thân, quyền yêu cầu được bảo hộ để xác định 4 bài viết của ông Tuân đã bị ông Tôn đưa vào tác phẩm mang tính nghiên cứu khoa học nhằm tranh luận, bình chú là vi phạm và áp dụng các chế tài quy định tại các Điều 27, 609, 610, 615 Bộ luật dân sự năm 1995, buộc ông Tôn phải bồi thường thiệt hại cho ông Tuân là không đúng, mà lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm cần áp dụng các Điều 760, 761 Bộ luật dân sự năm 1995 để bác đơn khởi kiện của ông Tuân mới phù hợp pháp luật hiện hành”.

          Như vậy, ý kiến của chuyên gia, cho dù là của người đứng đầu cơ Cục Bản quyền cũng không ràng buộc Tòa án. Thiết nghĩ, hướng đi này là thuyết phục. Người quyết định cuối cùng vẫn là Tòa án chứ không phải chuyên gia.

  1. Hoàn cảnh tương tự trong tương lai. Như đã nói ở trên, tranh chấp về việc trích dẫn tác phẩm của người khác khá phổ biến ở nước ngoài. Không có lý do gì mà loại tranh chấp này lại không tồn ở Việt Nam và vụ việc đang bình luận là một minh chứng. Tuy nhiên, đối với vụ việc trên, Tòa án đã sử dụng BLDS năm 1995 trong khi đó hiện nay chúng ta đã có BLDS sửa đổi và có Luật sở hữu trí tuệ. Nếu hoàn cảnh tương tự xảy ra thì chúng ta giải quyết như thế nào trên cơ sở của những quy định mới?

          Các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo luật SHTT Việt Nam bao gồm[9]:

  1. Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;
  2. Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh hoạ trong tác phẩm của mình;
  3. Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;
  4. Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không là sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;
  5. Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;
  6. Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
  7. Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;
  8. Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;
  9. Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
  10. Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.

Tuy nhiên, việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp trên không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính. Việc sử dụng đó cũng không được ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

          So sánh với quy định của BLDS 1995, quy định của Luật SHTT 2005 đã mở rộng hơn các trường hợp sử dụng tác phẩm không cần xin phép, không phải trả thù lao. Tuy nhiên, nếu đối chiếu với vụ án trên thì hành vi của ông Tuân khi in nguyên văn bốn tác phẩm của ông Tuân cũng không phải là hành vi sử dụng tác phẩm không cần xin phép, không phải trả thù lao vì không thuộc trường nào trong các trường hợp được quy định tại Điều 25 trên.

  1. Kết luận. Việc xác định ranh giới giữa hành vi sử dụng tác phẩm của người khác không phải xin phép, trả thù lao và hành vi cần sự đồng ý là khá khó trong thực tiễn. Văn bản đã có quy định nhưng quyền lợi của ai được bảo vệ còn phụ thuộc nhiều vào người vận dụng nó. Việc cân đối quyền lợi của tác giả và người khác là cần thiết. Tuy nhiên, việc cho phép sử dụng toàn bộ tác phẩm của người khác là điều không nên làm chu dù trong phần sử dụng có thêm phần nhận xét cá nhân của người sử dụng./.

* Tiến sỹ luật học, Trưởng Bộ môn Luật dân sự, ĐH Luật TP. HCM.

* * Tiến sỹ luật học, Phó trưởng khoa Luật Quốc tế, ĐH Luật TP. HCM

[1] Xem Luật bản quyền Hoa Kỳ, đạo luật số 17

[2] Xem Điều 107 Luật bản quyền Hoa Kỳ, đạo luật số 17

[3] Theo Điều luật này, « các hình thức sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả thù lao

1- Việc sử dụng tác phẩm quy định tại Điều 760 của Bộ luật này bao gồm các hình thức sau đây:

a) Sao lại tác phẩm để sử dụng riêng;

b) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai lạc ý của tác giả để bình luận hoặc minh hoạ trong tác phẩm của mình;

c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai lạc ý của tác giả để viết báo, để dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;

d) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai lạc ý của tác giả để giảng dạy, kiểm tra kiến thức trong nhà trường;

đ) Sao lại tác phẩm để lưu trữ, dùng trong thư viện;

e) Dịch, phổ biến tác phẩm từ tiếng Việt sang tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam và ngược lại;

g) Biểu diễn các tác phẩm sân khấu và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động ở nơi công cộng;

h) Ghi âm, ghi hình trực tiếp các buổi biểu diễn với tính chất đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;

i) Chụp ảnh, truyền hình, giới thiệu hình ảnh của tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng trưng bày ở nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của các tác phẩm đó;

k) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi cho người mù.

2- Quyền sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với việc sao lại tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, phần mềm máy tính”.

[4] Theo Điều luật này, « cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm của người khác đã được công bố, phổ biến, nếu tác phẩm không bị cấm sao chụp và việc sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh và không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không xâm hại đến các quyền lợi khác của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm; cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm không phải xin phép và không phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, nhưng phải ghi hoặc nhắc tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm ».

[5] Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb. Phương Đông, 2002, tr. 952.

[6] Lê Nết, Quyền sở hữu trí tuệ, Nxb. Đại học quốc gia, 2006, tr. 72.

[7] Bản án số 68/2006/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.

[8] Xem P. Y. Gautier, Propriété littéraire et artistique, Puf 1999, tr. 300.

[9] Khoản 1, điều 25, luật SHTT Việt Nam 2005.